Nơi dòng sông “chảy ngược”
Võ Lâm, 2/2003; Đào Duy An.
Các nền văn minh trên thế giới đều bên sông: Nền văn minh Ai Cập bên dòng sông Nile, nền văn minh Việt tộc bên dòng sông Dương Tử, nền văn minh Ấn Độ bên dòng sông Hằng, nền văn minh châu Âu xanh màu sông Volga và Danube, nền văn minh Nam Mỹ vỗ về lưu vực sông Amazon và nền văn minh sông Hồng, sông Mã, sông Lam 5.000 năm khi người Việt từ núi Thái sông Nguồn (nước Tàu bây giờ) lui về cộng cư với người Việt trước đó tại bắc Trung Bộ và vùng trung du Bắc Bộ nước Việt thân thương.
Mọi con sông đều hòa biển cả. Sông nước Việt về biển Đông. Trong tôi đang chảy một dòng sông cũng về biển Đông nhưng ngược lối và một nền văn hóa đang thành hình bên một dòng sông Đắk Bla mà tên ban đầu là Krong Blah: Nền văn hóa Kon Tum.
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”* nhưng miền đất này là máu, là thịt ngay từ ngày 1979 dấu chân con lưu dấu rừng và trăng đại ngàn đã chiếu rọi tâm hồn từ đó.
Ngày trung học phổ thông tôi lê tha mỗi chiều trên bãi cát Đắk Bla phía xứ Phương Hòa. Tôi chờ trăng lên để uống những giọt vàng sóng sánh, để nghe ma Chăm rên rỉ đâu đó bởi đây đã từng là vùng đệm chiến tranh của hai nước Chăm và Miên từ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII và sau đó 300 năm Kon Tum thuộc về Chăm và Lào.
Tôi thân quen với những địa danh trìu mến nghe ngọt lịm từ tiếng gọi đầu như Tân Hương, Trung Lương, Phương Nghĩa, Phương Quý, Phương Hòa, Lương Khế (có từ ngày 1911), và Võ Lâm (có từ ngày 1935)…; tình cảm ấy giống ngày 1999 tôi dành cho Huế, nào An Cựu, nào An Hòa, nào Nông, nào Truồi. Tôi bảo với bạn: “Địa danh Kon Tum tình tứ thật!”.
Tự thuở ban đầu vùng đất này đã chuộng bình yên. Chuyện kể rằng hai chàng Ba Na là Jơ Rông và Uông chán cảnh dân làng đánh nhau với các làng bên nên bỏ làng cũ, đến vùng đất trũng cạnh ao nước dựng nhà. “Đất lành chim đậu”, dần dà nên Kon Tum. Thực tế làng Kon Tum là do Linh mục Nguyễn Do cùng các linh mục An Nam lập độ năm 1856.
Kon Tum chân chất. Đất yên ả giữa núi vòng thấp thoáng; độ cao Kon Tum là 525 mét; nắng mưa hai mùa rõ rệt; phần lớn diện tích nằm phía tây Trường Sơn và nằm trọn trong cao nguyên Kon Tum cho nên sông chảy xuôi mà tưởng chừng như ngược.
Sông hiền hòa, len lỏi và ôm eo thành phố Kon Tum như thể vòng tay cô gái ôm ngang người mình yêu thương dạo chiều khắp phố.
Bờ bắc êm đềm, thấp thoáng làng người bản địa Ba Na như làng Kon Hra Chót, Kon Klor, Kon Mơ Nay Sơ Lam, Kon Tum Kơ Nâm, Kon Tum Kơ Pâng, Kon Rờ Bàng và Plei Tơ Nghia.
Bờ nam xanh rì bãi mía, chấp chới phía sau màu hy vọng ấy là làng Phương Hòa. Tôi bảo với bạn Huế: “Kon Tum có thế đất và nếp sống na ná cố đô. Đất thần kinh có dòng Hương thơ mộng và man mác thì Kon Tum có dòng Đắk Bla mộc mạc và trầm tư”.
Khi bạn về Kon Tum, bạn cười và dường như hiểu nỗi lòng của tôi với miền đất trũng.
Giọng Kon Tum khó lẫn vào đâu được: Đó không phải là chất giọng xứ Quảng Ngãi ngang bè, giọng Bình Định mềm đục, giọng Huế trĩu tình mà là giọng trong vắt và mượt như dòng Đắk Bla. Chỉ cần nghe em là nhận ra chất Kon Tum ngàn năm kiến tạo. Ôi! Sự hợp hoan của đất, của nước, của trời và của bao miền hội tụ nơi đây để nên giọng em mới ngọt ngào làm sao. Không biết những cuộc di dân xưa ảnh hưởng sao đến khí chất người Kon Tum, nhất là người con gái. Em mặn mà, em nhỏ nhẹ, em nhẫn nại như dòng sông “chảy ngược”. Em con dòng tổ nào trong những dòng người âm thầm xé rừng lên Kon Tum để yêu vùng đất trũng? Tôi như nghe những bước chân xưa của ba đợt xé rừng lịch sử; đó là những năm đời Vua Thiệu Trị vì lánh nạn bài Chúa mà con chiên về Kon Tum, rồi cuộc di dân thời Pháp và sau đó mười lăm năm là người Bắc ngày 1954.
Ngày 1875 làng Kon Tum có 150 người Kinh và Ba Na.
Ngày 2020 Kon Tum có 561.742 người thuộc 25 sắc tộc.
Dẫu em con dòng tổ nào tôi cũng biết ơn bởi dòng máu chảy trong em hiền hòa và nhẫn nại để lòng tôi mát khi nghe bạn mình bảo: “Sơn nữ Kon Tum hớp hồn ta!”.
Trong tôi mọi dòng sông đều chảy.
Giã từ nắng tuổi thơ bên dòng Trà thi ca, tôi qua con sông Ba trong Việt tích ”Gươm ông Tú” ở An Khê, Kon Tum cũ, vượt “cổng trời” Mang Yang để ngâm mình trong dòng Ia Xia ở Vùng Kinh tế mới Sa Thầy. Tôi thẫn thờ trước vẻ đẹp mặn mà của con sông Cầu tình tứ vòng ôm thành phố Thái Nguyên. Tôi về tận bến Bính ở Hải Phòng để so màu son mùa nước lũ sông Bạch Đằng với sông Hồng. Tôi trầm tư dòng Hương man mác, thả hồn theo mây mơ về thiên mụ giúp Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chọn thế muôn đời để mở mang nước Việt. Tôi xuôi dòng Thu Bồn ở Quảng Nam, trầm ngẫm Chăm.
Tôi nếm vị mằn mặn con sông Cái Nha Trang. Tôi đi ngang dòng Đồng Nai, nhìn thấp thoáng những lựng bèo trôi dạt, thương nhớ chú bé An trong Đất rừng phương Nam. Mỗi con sông đều e ấp hồn thơ; sông Đắk Bla dung dị. Sông cũng như người: Tôi liên tưởng dòng Đắk Bla “chảy ngược” sang Ratanakiri và Stung Treng của Miên với Công chúa Trần Huyền Trân Nhà Trần phải giã từ người yêu là Trần Khắc Chung vâng lệnh vua cha xuôi Chăm để lấy Chế Mân và đem về châu Ô và châu Rí. Thế Đắk Bla đem về gì cho Kon Tum khi sang “làm dâu” xứ người, có lẽ đó là tình người chung một dòng sông.
Ôi! Đắk Bla của em và của tôi!
Nơi ấy em tắm tuổi thơ!
Nơi ấy mẹ gội cho từng đứa!
Em giã biệt con sông Côn thét gào mùa lũ, tôi xa dòng Trà khát vọng trăng non.
Ta nắm tay nhau lội dọc bãi bồi dòng “chảy ngược”, ta hẹn trăng ngàn bên cầu treo Kon Klor.
Cảm ơn em!
Cảm ơn miền đất trũng!
Dẫu biệt Đắk Bla nhưng trăng đại ngàn vẫn lấp loáng trong tôi; nơi ấy vẫn còn người kể Việt tích “Kinh và Ba Na là anh em” của ngàn xưa; và, da diết hơn, nơi ấy có em nhẫn nại như người đi mở cõi hôm nao và dịu hiền như dòng “chảy ngược”.
Nền văn hóa Kon Tum bắt đầu từ đây.
Mai này Từ điển Nhân văn học nước Việt có mục từ “tính cách người Kon Tum”.



Bài viết liên quan:
Trích “Bệnh lây nhiễm nguy hiểm không”
Về Kon Tum đi em
Tôi đọc “dưỡng & dạy măng CON, cách măng MẸ ươm từ trong bụng”
Giá trị của kí lịch sử “Lần dấu người xưa Đào Duy Từ – 陶維慈”
“Thương nhớ ngàn xưa”, kí tình yêu & hôn nhân của Bác sĩ gia đình, Thạc sĩ nội khoa Đào Duy An
Điểm biên khảo “Ngày ấy Kon Tum”